Blog Archive

KHOA HỌC CÂY LÚA

FOOD CROP LECTURE

Saturday, November 28, 2020

Chương 3. KHÍ HẬU VÀ ĐẤT TRỒNG LÚA

 

Chương 3
KHÍ HẬU VÀ ĐẤT TRỒNG LÚA

3.1    Khí hậu: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, gió, nguồn nước

3.2    Đất lúa Việt Nam sự phân bố và tính chất đất cơ bản

3.3    Những vùng trồng lúa và vụ lúa chính ở Việt Nam

3.4    Hệ thống canh tác ở Việt Nam .

3.5   Quản lý dinh dưỡng cho cây lúa theo vùng đặc thù .

3.6   Những biểu hiện của cây lúa thiếu chất dinh dưỡng và bị ngộ độc .

3.7   Đất Việt Nam và tình hình sản xuất sử dụng phân bón .

 

3.1    Khí hậu: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, gió, nguồn nước

(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)

Cây lúa thích nghi rất rộng với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau từ vĩ độ 35° Nam-53° Bắc. Điều kiện sinh thái có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cây lúa, nó quyết định loại hình cây lúa, cơ cấu giống lúa, thời vụ gieo cấy, biện pháp canh tác và hình thành các vùng trồng lúa khác nhau.

3.1.1 Ánh sáng

Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và phát dục của cây lúa trên 2 phương diện: cường độ ánh sáng và độ dài chiếu sáng trong ngày (quang kỳ).

Cường độ ánh sáng:

Cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sự quang hợp của cây lúa, thể hiện chủ yếu bằng năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu trên đơn vị diện tích đất (lượng bức xạ). Bức xạ mặt trời gồm: ánh sáng trực xạ (ánh sáng chiếu trực tiếp), ánh sáng phản xạ (ánh sáng phản chiếu), ánh sáng tán xạ (ánh sáng khuyếch tán) và ánh sáng thấu qua...đều có tác dụng nhất định đối với quang hợp của quần thể ruộng lúa (Hình 4.1). Thông thường, cây lúa chỉ sử dụng được khoảng 65% năng lượng ánh sáng mặt trời chiếu tới ruộng lúa. Trong điều kiện bình thường, lượng bức xạ trung bình từ 250-300 cal/cm2/ngày thì cây lúa sinh trưởng tốt và trong phạm vi nay thì lượng bức xạ càng cao thì quá trình quang hợp xảy ra càng mạnh. Bức xạ mặt trời ảnh hưởng lớn đến các giai đọan sinh trưởng khác nhau và năng suất lúa, đặc biệt ở các giai đoạn sau.

Hình 4.1. Sơ đồ cân bằng bức xạ sóng ngắn trên ruộng lúa lúc trổ bông

-            Giai đoạn lúa non: nếu thiếu ánh sáng cây lúa sẽ ốm yếu, màu lá từ xanh nhạt chuyển sang vàng, lúa không nở bụi được.

-            Thời kỳ phân hóa đòng: nếu thiếu ánh sáng thì bông lúa sẽ ngắn, ít hạt và hạt nhỏ, hạt thoái hóa nhiều, dễ bị sâu bệnh phá hại.

-            Thời kỳ lúa trổ: thiếu ánh sáng sự thụ phấn, thụ tinh bị trở ngại làm tăng số hạt lép, giảm số hạt chắc và hạt phát triển không đầy đủ (hạt lửng), đồng thời cây có khuynh hướng vươn lóng dễ đổ ngã.

-            Giai đoạn lúa chín: nếu ruộng lúa khô nước, nhiệt độ không khí cao, ánh sáng mạnh thì lúa chín nhanh và tập trung hơn; ngược lại thời gian chín sẽ kéo dài. Kết quả từ nhiều thí nghiệm cho thấy, thời kỳ cần năng lượng mặt trời cực trọng nhất đối với lúa là từ lúc phân hóa đòng đến khoảng 10 ngày tmớc khi lúa chín, vì sự tích lũy tinh bột trong lá và thân đã bắt đầu ngay từ khoảng 10 ngày trước khi trổ và được chuyển vị vào hạt rất mạnh sau khi trổ.

Ở ĐBSCL, lượng bức xạ hàng năm rất dồi dào, đáp ứng đủ yêu cầu sinh trưởng và phát triển của cây lúa gần như quanh năm. Số giờ nắng toàn năm trung bình lên tới 2000 - 2400 giờ. Suốt các tháng mùa khô, sổ giờ nắng vượt quá 200 giờ mồi tháng, nhất là tháng 3, trung bình có 7 - 8 giờ nắng mồi ngày. Trong những tháng mùa mưa, lượng bức xạ tương đối thấp (7-8 giờ nắng/ngày), nhất là vào tháng 6 và 9. Do đó, nếu bảo đảm được các yếu tố khác nhất là nước tưới, thì trồng lúa trong mùa nắng (vụ Đông Xuân) sẽ có tiềm năng cho năng suất cao hơn mùa mưa (vụ Hè Thu và Thu Đông). Ngoài ra, điều kiện canh tác, chế độ nước, dinh dưỡng, mật độ gieo cấy và kiểu hình cây lúa khác nhau có ảnh hưởng đến quá trình quang hợp, sử dụng ánh sáng mặt trời của ruộng lúa rất nhiều.

Quang kỳ:

Quang kỳ là khoảng thời gian chiếu sáng trong ngày tính từ lúc bình minh đến lúc hoàng hôn.

Lúa là cây ngày ngắn, cho nên quang kỳ ngắn điều khiển sự phát dục của cây lúa. Nó chỉ làm đòng và trổ bông khi gặp quang kỳ ngắn thích hợp (các giống lúa quang cảm). Quang kỳ thay đổi nhiều theo vĩ độ và theo mùa trong năm (Hình 4.2). Ở vĩ độ 44 ° Bắc (gần giới hạn phía Bắc vùng trồng lúa Nhật Bản), độ dài ngày trong năm thay đổi từ 9-15 giờ 30 phút. Tuy nhiên, tại xích đạo nó chỉ thay đối từ 12 giờ 6 phút đến 12 giờ 8 phút, chỉ khác biệt có 2 phút. So với cây ở vùng ôn đới, các cây vùng nhiệt đới nhạy cảm hơn đối với sự khác biệt nhỏ trong độ dài ngày (Chang, J. H, 1968).

Dựa vào phản ứng đối với quang kỳ, người ta phân biệt sinh trưởng của cây lúa ra làm 2 pha:

-            Pha dinh dưỡng căn bản (Basic vegertative phaseBVP): là giai đọan sinh trưởng sớm, khi cây còn non không bị ảnh hưởng bởi quang kỳ. Ở hầu hết các giống lúa pha nay dài khoảng 10-63 ngày. Một cách đơn giản để ước tính thời gian nay là lấy số ngày từ nẩy mầm đến trổ bông ở quang kỳ tối hảo (số ngày đến trổ ngắn nhất) trừ cho 35 ngày. Điều này giả định rằng thời gian từ tượng khối sơ khởi đến trổ bông là 35 ngày.

-            Pha cảm ứng quang kỳ (Photoperiod-sensitive phase-PSP): là giai đoạn cảm ứng với ngày ngắn để ra hoa. Từ đặc tính cảm ứng này người ta đưa ra khái niệm quang kỳ tối hảo và quang kỳ tới hạn. Quang kỳ tối hảo là độ dài ngày mà ở đó thời gian từ gieo đến trổ bông ngắn nhất đối với hầu hết các giống lúa. Quang kỳ tối hảo của lúa biến thiên từ 9-10 giờ. Quang kỳ dài hoặc ngắn hơn quang kỳ tối hảo đều làm chậm sự trổ bông và sự chậm trể này tùy thuộc vào sự mẫn cảm của giống. Quang kỳ tới hạn là quang kỳ dài nhất mà ở đó cây vẫn còn có thế trổ bông được và dài hơn quang kỳ này cây không thể trổ bông đối với hầu hết các giống lúa. Quang kỳ tới hạn của lúa biến thiên từ 12-14 giờ tùy giống. Độ dài của pha cảm ứng quang kỳ (PSP) được xác định bằng cách lấy thời gian sinh trưởng dài nhất (trong điều kiện quang kỳ tới hạn) trừ cho thời gian sinh trưởng ngắn nhất (trong điều kiện quang kỳ tối hảo). Độ dài của PSP là thước đo sự mẫn cảm của giống đối với quang kỳ. Quang kỳ tới hạn càng ngắn, PSP càng dài và quang kỳ tối hảo ngắn cũng gắn liền với PSP dài (Vergara và Chang, 1976). Trong điều kiện quang kỳ dài liên tục, một số giống vẫn ở trong tình trạng sinh trưởng dinh dưỡng sau 12 năm trồng, do quang kỳ dài vượt quá mức quang kỳ tới hạn.

Ở ĐBSCL, quang kỳ trong năm biến thiên từ 10:00-13:30 giờ/ngày. Mùa đông ngày ngắn - ngắn nhất là ngày đông chí (22/12 dl), mùa hè dài hơn và dài nhất là ngày hạ chí (22/6 dl). Các giống lúa có cảm ứng với quang kỳ ngắn (quang cảm) chỉ trổ bông vào những thời điểm nhất định trong năm, lúc mà quang kỳ bắt đầu ngắn dần từ sau ngày thu phân (23/9 dl). Các giống lúa địa phương trồng ở ĐBSCL phần lớn đều có đặc tính này nên gọi là lúa mùa (lúa trổ và chín theo mùa). Thí dụ: lúa Trắng Tép trổ vào cuối tháng 11 dl và chín vào cuối tháng 12 dl hay lúa Tài Nguyên trổ vào cuối tháng 12 dl và chín vào cuối tháng giêng dl, cho dù gieo cấy ở các thời điểm sớm muộn khác nhau (Hình 4.3).

Hình 4.3. Đặc tính quang cảm của các giống lúa mùa tiêu biểu ở ĐBSCL

Do đó, đối với lúa mùa, khái niệm thời gian sinh trưởng không có giá trị nhiều, mà chính thời điểm lúa trổ hoặc lúa chín mới là yếu tố quan trọng trong sản xuất.

Dựa vào tính cảm ứng khác nhau đối với quang kỳ, người ta chia các giống lúa ra làm 3 nhóm: không mẫn cảm, mẫn cảm yếu và mẫn cảm mạnh.

Không có một ranh giới rõ rệt giữa các nhóm này. Mọi sự phân chia đều có tính tương đối. Tuy nhiên, dựa trên cơ sở này, ta có thế phân chia các giống lúa địa phương ở đồng bằng Sông Cửu Long thành 3 nhóm chính:

-            Lúa mùa sớm: ít hay không quang cảm, trổ vào tháng 9 - 10 dl như: Sóc So, Sa Mo, Lúa Tiên....

-            Lúa mùa lỡ: quang cảm trung bình, trổ vào tháng 11 dương lịch như: Ba Thiệt, Bông Đinh, Nàng Nhuận, Một Bụi...

-            Lúa mùa muộn: quang cảm mạnh, trổ từ tháng 12 dương lịch như: Trắng Tép, Trời Cho, Châu Hạng Võ, Huyết Rồng, Đuôi Trâu, Tàu Hương, Nàng Tri, Trường Hưng, Tàu Binh...

Do tính quang cảm, lại phải gieo cấy trước khi nước ngập sâu trên ruộng nên các giống lúa mùa thường có thời gian sinh trưởng rất dài và chỉ trồng được một vụ lúa trong năm. Trong khi các giống lúa mới (lúa cải thiện) được lai tạo và chọn lọc theo hướng không quang cảm hoặc rất ít quang cảm lại ngắn ngày (3-4 tháng) nên có thể gieo cấy bất cứ lúc nào trong năm và trồng được nhiều vụ một năm như: NN3A, NN6A, NN7A, NN8A, MTL250, MTL384, MTL392, OM 1490, OM 3536,... Tuy nhiên, trong điều kiện canh tác hoàn toàn dựa vào nước trời, tính quang cảm của lúa rất cần thiết khi sự khởi đầu của mùa mưa không thể dự đoán được, trong khi thường chấm dứt khá ổn định. Một giống lúa quang cảm mạnh sẽ cho thu hoạch khi mùa mưa kết thúc, nước trên ruộng vừa cạn, cho dù xuống giống sớm hay muộn do mùa mưa đến sớm hay trễ. Một giống lúa không quang cảm có thời gian sinh trưởng ổn định, sẽ bị thiệt hại do thiếu nước vào cuối vụ, nếu được trồng trể vì mùa mưa đến muộn. Ngoài ra, hầu hết các giống lúa cổ truyền trong vùng nhiệt đới đều có tính quang cảm nhiều hay ít, có thời gian sinh trưởng dài và cao cây. Khi các giống nay được trồng sớm và bón đạm cao, chúng có xu hướng ngã đố nên năng suất hạt thấp. Khi trồng các giống nay trể hơn, chúng thường có thời gian sinh trưởng ngắn và thấp cây hơn, do đó tăng sự kháng đổ ngã. Kinh nghiệm trồng lúa cấy 2 lần ở vùng trũng thấp thuộc ĐBSCL là một biện pháp canh tác hết sức độc đáo nhằm đối phó với điều kiện môi trường khắc nghiệt và nhằm hạn chế sự sinh trưởng dinh dưỡng quá mức của các giống lúa mùa muộn dài ngày

3.1.2 Nhiệt độ

Nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu. Trong phạm vi giới hạn (20-30° C), nhiệt độ càng tăng cây lúa phát triển càng mạnh. Nhiệt độ trên 40 °C hoặc dưới 17° C, cây lúa tăng trưởng chậm lại. Dưới 13° C cây lúa ngừng sinh trưởng, nếu kéo dài 1 tuần lễ cây lúa sẽ chết. Phạm vi nhiệt độ mà cây lúa có thể chịu đựng được và nhiệt độ tối hảo thay đổi tùy theo giống lúa, giai đọan sinh trưởng, thời gian bị ảnh hưởng là tình trạng sinh lý của cây lúa (Bảng 4.1). Nói chung, các giống lúa ôn đới chịu đựng nhiệt độ thấp giỏi hơn các giống lúa nhiệt đới và ngược lại. Cây lúa già chịu đựng giỏi hơn cây lúa non; thời gian bị ảnh hưởng càng dài, cây lúa càng suy yếu thì khả năng chịu đựng càng kém.

Bảng 4.1. Đáp ứng của cây lúa đối vói nhiệt độ ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau

Đối với lúa nước, cả nhiệt độ không khí lẫn nhiệt độ nước đều có ảnh hưởng trên sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Suốt từ đầu đến khi tượng khối sơ khởi, đỉnh sinh trưởng của lá, chồi và bông nằm trong nước nên ảnh hưởng của nhiệt độ rất quan trọng. Tuy nhiên, sự vươn dài của lá và sự phát triển chiều cao chịu ảnh hưởng cả nhiệt độ nước và không khí. Đến khi đòng lúa vươn ra khỏi nước, vào khoảng giai đọan phân bào giảm nhiễm, thì ảnh hưởng của nhiệt độ không khí trở nên quan trọng hơn. Do đó, có thế nói rằng, nhiệt độ nước và không khí ảnh hưởng trên năng suất và các thành phần năng suất lúa thay đổi tùy giai đoạn sinh trưởng của cây. Trong giai đọan sinh trưởng ban đầu, nhiệt độ nước ảnh hưởng đến năng suất thông qua việc ảnh hưởng lên số bông trên bụi. Giai đoạn giữa nhiệt độ nước ảnh hưởng lên số hạt trên bông và phần trăm hạt chắc. Đến giai đọan sau, nhiệt độ không khí sẽ ảnh hưởng lên năng suất thông qua ảnh hưởng trên phần trăm hạt chắc và trọng lượng hạt. Trong phạm vi nhiệt độ từ 22-31° C tốc độ tăng trưởng của cây lúa hầu như gia tăng theo đường thẳng cùng với sự gia tăng nhiệt độ. Hệ số nhiệt Q10 được định nghĩa là mức gia tăng sinh khối của cây lúa khi nhiệt độ tăng lên 10° C. Đối với sinh trưởng của cây lúa sau khi nẩy mầm Q10 thường bằng 2 và giảm dần khi nhiệt độ tăng lên quá 32° C.

Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp:

Thiệt hại do nhiệt độ thấp có thế xảy ra ở nơi có vĩ độ cao và cả những vùng núi cao nhiệt đới trong mùa lạnh, khi nhiệt độ trung bình ngày xuống dưới 20° C. Nhiệt độ thấp làm giảm hoặc ngưng hẳn sự nấy mầm của hạt, làm mạ chậm phát triển, cây mạ ốm yếu, lùn lại, lá bị mất màu, trổ trễ, bông bị nghẹn, phần chót bông bị thoái hóa, sự thụ phấn bị đình trệ, khả năng bất thụ cao, hạt lép nhiều và chín kéo dài bất thường. Các giống lúa khác nhau phản ứng với nhiệt độ thấp khác nhau. Bón phân lân có thế làm giảm thiệt hại do nhiệt độ thấp.

Ảnh hưởng của nhiệt độ cao:

Thiệt hại do nhiệt độ cao thường xảy ra ở vùng nhiệt đới trong mùa nắng vào giữa trưa khi nhiệt độ vượt quá 35 ° C và kéo dài hơn 1 giờ đồng hồ. nhiệt độ cao chót lá bị khô trắng, trên lá có những dãy và đốm bị mất màu, nở bụi kém, chiều cao giảm, số hạt trên bông giảm, bông lúa bị trắng, hạt thóai hóa nhiều, hạt bất thụ cao, hạt chắc giảm.

Nói chung, nhiệt độ thích hợp nhất cho cây lúa là 26-28° C, nhiệt độ thay đổi tùy theo cao độ, vĩ độ và mùa trong năm. Càng lên phía Bắc nhiệt độ càng trở nên khắc khe, yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng rất quan trọng đến việc trồng lúa. Riêng ở ĐBSCL, nhiệt độ trung bình trong năm thay đổi rất ít, trung bình từ 26-27° C. Ở hầu khắp các nơi trong vùng, tổng nhiệt độ năm lên tới 9500-10000° C, trong khi tổng tích ôn cần thiết của cây lúa trung bình là 3500-4500° C đối với các giống lúa trung mùa và khoảng 2500-3000° C đối với các giống lúa ngắn ngày. Do đó, ở ĐBSCL, người ta có thể trồng lúa quanh năm và trồng được nhiều vụ 1 năm vẫn có khả năng cho năng suất cao miễn bảo đảm có đủ nước tưới. Yếu tố quyết định mùa vụ ở đây là đất đai và chế độ nước.

Tuy nhiên, ở ĐBSCL, biến động nhiệt độ giữa ngày và đêm (biên độ nhiệt) khá mạnh, nhất là vào những tháng mùa khô, biên độ nhiệt ngày và đêm có thể đạt tới 8-10 ° C tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích lũy chất khô trong cây, giúp cây lúa phát triển tốt và cho năng suất cao. Năng suất lúa vụ Đông Xuân thường cao hơn các vụ khác trong năm, ngoài các yếu tố độ phì của đất cao hơn (do được bổ sung trong mùa lũ), bức xạ mặt trời dồi dào hơn, thì biên độ nhiệt ngày và đêm cao cũng là yếu tố quan trọng lý giải cho hiện tượng nay.

3.1.3 Lượng mưa

Trong điều kiện thủy lợi chưa hoàn chỉnh, lượng mưa là một trong những yếu tố khí hậu có tính chất quyết định đến việc hình thành các vùng trồng lúa và các vụ lúa trong năm.

Trong mùa mưa ẩm, lượng mưa cần thiết cho cây lúa trung bình là 6 - 7 mm/ngày và 8 - 9 mm/ngày trong mùa khô nếu không có nguồn nước khác bố sung. Nếu tính luôn lượng nước thấm rút và bốc hơi thì trung bình 1 tháng cây lúa cần một lượng mưa khoảng 200 mm và suốt vụ lúa 5 tháng cần khoảng 1000 mm.

Ở ĐBSCL, lượng mưa hàng năm trung bình từ 1200 - 2000 mm nhưng phân phối không đều, gây ngập úng giữa mùa mưa ở nhiều nơi, mùa khô lại không đủ nước tưới. Ngay trong mùa mưa, đôi khi lại có một khoảng thời gian nắng hạn kéo dài làm trở ngại cho sự sinh trưởng của cây lúa. Hàng năm, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5-11 dl, cao nhất vào tháng 09-10 dl, lượng mưa có thế lên đến 300 - 400 mm/tháng và thường có trên 20 ngày mưa (Hình 4.4). Biểu đồ biến động lượng mưa trung bình hằng năm thể hiện rõ 2 đỉnh (tháng 5-6 và tháng 9-10 dl). Giữa 2 đỉnh là khoảng thời gian ít mưa vào cuối tháng 7, đầu tháng 8. Thường đợt nắng hạn nay kéo dài khoảng 2 tuần lễ, dân gian gọi là “hạn Bà Chằng”.

Nếu công tác thủy lợi được thực hiện tốt, ruộng lúa chủ động nước thì mưa không có lợi cho sự gia tăng năng suất lúa. Ngược lại mưa nhiều, gió to, trời âm u, ít nắng, cây lúa phát triển không thuận lợi. Mưa còn tạo điều kiện ấm độ thích hợp cho sâu bệnh phát triển làm hại lúa.

Hình 4.4. Biểu đồ thủy văn và lượng mưa ở ĐBSCL (bình quân 1990-2000)

Trong việc lập đề án phát triển sản xuất ở một khu vực nào đó, việc tính toán nhu cầu nước cho lúa thật cần thiết để bảo đảm tính khả thi của đề án và cân đối tỉ lệ diện tích, cơ cấu mùa vụ trồng lúa trong khu vực. Phương pháp đơn giản là dựa vào sự cân bằng nước. Sự cân bằng nước có thể được khảo sát ở vùng rễ đối với một ruộng nào đó, hoặc có thể xem xét trên một phạm vi rộng lớn hơn như chu trình thủy văn của cả khu vực (Hình 4.5). Trong trường hợp đơn giản nhất và không để ý đến lượng nước chảy tràn, sự cân bằng nước có thế tính bằng công thức sau:

dW = (P + I) - (E + LS)

(Nguồn vào) - (Nguồn ra)

Trong đó, dw có thể là sự thay đổi ẩm độ đất ở ruộng cao (lúa rẫy), hoặc sự thay đổi độ sâu mực nước trong ruộng lúa có đê bao. P là tổng lượng mưa và I là tổng lượng nước tưới trong thời gian nhất định. Trên đất dốc, nước chảy tràn trên bề mặt từ ruộng cao xuống ruộng thấp hơn hoặc nước tự chảy vào ruộng do thủy triều cũng được xem là nguồn vào. Nguồn ra là sự mất nước thông qua bốc thoát hơi (E), hiện tượng thấm lậu và rò rỉ (LS). Để tính dw, ta cần biết độ sâu của tầng rễ và độ ẩm của đất. Ngoài ra để tính nhu cầu nước hoặc thời gian tưới, cần có sự hiểu biết về điều kiện ẩm độ ban đầu của đất và khả năng giữ nước của đất.

Hình 4.5. Sự cân bằng nước ở vùng rễ ruộng lúa nước

3.1.4 Gió

ĐBSCL thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa gió rõ rệt trùng với 2 mùa mưa và khô:

-            Mùa khô (từ tháng 12-04 dl) hướng gió thịnh hành là gió Đông - Bắc lạnh và khô.

-            Mùa mưa (từ tháng 05-11 dl) hướng gió thịnh hành là gió Tây - Nam nóng và ẩm, nhiều mưa, thường có giông gió lớn gây thiệt hại nhà cửa, cây trồng và ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây lúa. Tháng nhiều giông nhất là tháng 5 với trên 20 ngày giông. Từ tháng 06-10 dl, mỗi tháng có 15-20 ngày giông. Gió lớn có thể làm cho cây lúa đổ ngã, thân lá bầm dập - là cửa ngõ của các mầm bệnh xâm nhập, nhất là bệnh cháy bìa lá (Xanthomonas oryzae).

Ở giai đoạn làm đòng và trổ, gió mạnh ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông, thụ phấn, thụ tinh và sự tích lũy chất khô trong hạt bị trở ngại làm tăng tỉ lệ hạt lép, hạt lửng (gạo không đầy vỏ trấu) làm giảm năng suất lúa. Tuy nhiên, gió nhẹ giúp cho quá trình trao đổi không khí trong quần thể ruộng lúa tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quang hợp và hô hấp của ruộng lúa góp phần tăng năng suất.

3.1.5 Nguồn nước

ĐBSCL mới được khai phá cách đây hơn 300 năm và lúa là cây trồng đầu tiên đế cung cấp lương thực cho cộng đồng dân cư tiên phong nay. Người dân đầu tiên định cư tại những khu vực đất cao ven sông và trồng lúa quanh nhà nơi có đất tốt và ít bị ngập sâu trong mùa lũ. Khi dân số ngày càng tăng, nhu cầu lương thực ngày càng cao, diện tích trồng lúa được lấn dần vào nội đồng và những vùng khó khăn hơn như ngập lũ, phèn, mặn. Lịch sử phát triển diện tích trồng lúa được ghi nhận như hình 4.6A.

Có thể nói, ở ĐBSCL, điều kiện thủy văn quyết định chế độ nước, mùa vụ, tập quán canh tác và hình thành các vùng trồng lúa khác nhau. Nói chung, hàng năm nước bắt đầu ngập ruộng tháng 07-08 dl tùy nơi, và đạt cao nhất vào tháng 09-10 dl trùng với đỉnh cao của mùa mưa, sau đó giảm dần đến tháng 12-1 dl thì khô ruộng. Ở mỗi nơi tùy theo địa hình cao hay thấp, gần hay xa sông mà thời gian ngập nước và độ ngập sâu cạn khác nhau. Từ đó, đã hình thành các vùng trồng lúa, kiểu canh tác và mùa vụ khác nhau (Hình 4.6B).

Hình 4.6. Lịch sử phát triển diện tích lúa (A), các vùng trồng lúa và các kiểu canh
tác lúa cổ truyền ở Đồng Bằng Sông Cửu Long trong những năm 1970 (B)

Tuỳ điều kiện canh tác, đặc biệt là chế độ ngập lũ, mà nông dân ĐBSCL đã chọn lọc và sử dụng lúa giống lúa khác nhau. Đây là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo đặc thù trong canh tác lúa của người dân ĐBSCL. Có hơn 1600 giống lúa cố truyền khác nhau được canh tác ở ĐBSCL đã được tìm thấy, sưu tập và bảo tồn tại Viện Nghiện Cứu Phát Triển ĐBSCL, trường Đại học Cần Thơ (Nguyễn Ngọc Đệ, 1985). Từ khi bắt đầu du nhập các giống lúa cao sản ngắn ngày vào những năm 1967-1968 với giống đầu tiên là IR8, cùng với sự phát triển của hệ thống thuỷ lợi, diện tích lúa mùa cổ truyền ngày càng bị thu hẹp và hệ quả là sự mất dần nguồn gien giống lúa ở ĐBSCL. Đến nay, hơn ¾ số giống này đã không còn hiện diện trong sản xuất, do sự thay thế của các giống lúa cao sản ngắn ngày không quang cảm, với tốc độ nhanh từ sau khi đất nước thống nhất, đặc biệt là trong những năm 1980-1990. Các giống lúa này thích nghi đặc biệt với các điều kiện canh tác khác nhau, đặc biệt là đất đai (phèn, mặn,...) và chế độ nước (khô hạn, ngập úng,...). Đi kèm với các giống lúa thích nghi đặc biệt nay là các kỹ thuật canh tác rất độc đáo và đầy sáng tạo để có thể khai thác hiệu quả các điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt ở ĐBSCL trong thời gian khai phá đồng bằng cho đến khi các công trình thuỷ lợi được thiết lập rộng rãi. Các công cụ truyền thống để khai phá đất đai và dùng trong sản xuất lúa (từ chuấn bị đất, gieo cấy, thu hoạch, ra hạt,...) cũng đã được nông dân chế tạo cho phù hợp với các điều kiện canh tác đa dạng nay. Những nông cụ truyền thống nay, cùng với các kiến thức bản địa trong canh tác lúa cổ truyền cũng dần bị mai một.

Vùng lúa nối:

Nước lũ từ thượng nguồn sông Mekong tràn về ngập ruộng sớm (tháng 07 dl) và tiếp tục dâng lên đến độ sâu trên 1 mét, có nơi đến 2-3 m vào tháng 09-10 dl. Người ta dùng những giống lúa có đặc tính vươn lóng nhanh để có thể ngoi theo mực nước và sạ thẳng vào đầu mùa mưa hàng năm.

Vùng lúa cấy 2 lần:

Đây là vùng trũng, nước rút chậm, ở khu vực trung tâm của đồng bằng, thường trồng những giống lúa mùa muộn, cao cây, dài ngày, gieo mạ, cấy giâm (cấy lần 1), một thời gian cho lúa nở bụi rồi mới bứng lên và cấy lần 2 trên diện rộng (cấy liền). Các giống lúa nay cho thu hoạch vào tháng 1-2 dl hàng năm.

Vùng lúa cấy 1 lần:

Đây là vùng cao và trung bình, nước rút nhanh hoặc bị nhiễm phèn, nhiễm mặn ven biển thường sử dụng những giống lúa mùa lỡ cho thu hoạch trước khi ruộng khô vào tháng 12 và đầu tháng 1 dl, chỉ làm 1 vụ lúa một năm.

Các thông tin chi tiết hơn về kỹ thuật canh tác từng nhóm lúa cổ truyền nay được trình bày ở phần 4.3.

3.2   Đất lúa Việt Nam sự phân bố và tính chất đất cơ bản 

Yêu cầu đất đai

Nói chung, đất trồng lúa cần giàu dinh dưỡng, nhiều hữu cơ, tơi xốp, thoáng khí, khả năng giữ nước, giữ phân tốt, tầng canh tác dầy để bộ rễ ăn sâu, bám chặt vào đất và huy động nhiều dinh dường nuôi cây. Loại đất thịt hay đất thịt pha sét, ít chua hoặc trung tính (pH = 5,5-7,5) là thích hợp đối với cây lúa. Tuy nhiên, muốn trồng lúa đạt năng suất cao, đất ruộng cần bằng phẳng và chủ động nước. Trong thực tế, có những giống lúa có thể thích nghi được trong những điều kiện đất đai khắc nghiệt (như: phèn, mặn, khô hạn, ngập úng) rất tốt.

Đất trồng lúa ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất trẻ được thành lập không quá 10.000 năm, do phù sa sông Mekong bồi đắp và do tác động của hiện tượng biển lùi. Cứ mỗi lần biển lùi, một dãy đất mới được thành lập để lại các dãy giồng cát song song với bờ biển rất điển hình ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Tác động của dòng chảy của sông Cửu Long và triều biển (biển Đông với chế độ bán nhật triều và Vịnh Thái Lan với chế độ nhật triều) đã hình thành nên vùng phù sa ven sông và đất phèn từ nhẹ đến nặng tại các vùng trũng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, vùng trũng Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau. Cho tới đầu thập niên 80, hơn 75% diện tích đất canh tác ở ĐBSCL đều nhờ vào nước trời, đại bộ phận đất đai cần phải được cải tạo mới có thế trồng lúa tốt được. Những năm gần đây, nhờ vào việc mở rộng các hệ thống thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ mà diện tích có thể tưới tiêu đã tăng lên đến trên 75%.

Một cách tổng quát, có thể chia đất đồng bằng sông Cửu Long làm 4 nhóm chính (Hình 4.7.)

Hình 4.7. Các nhóm đất chính ở đồng bằng sông Cửu Long (N.N. Đệ, 2006)

Nhóm đất mặn: chiếm khoảng 800.000 ha (21%) phân bố dọc theo bờ biển. Thiếu nước ngọt và bị nhiễm mặn vào mùa khô là hạn chế chính trong sản xuất lúa ở vùng này. Thêm vào đó, rừng đước bị chôn vùi lâu năm dưới lớp đất phù sa tạo nên loại đất phèn tiềm tàng và hiện tại kết hợp với mặn càng làm cho việc sản xuất lúa gặp nhiều khó khăn hơn. Ở các vùng đất phù sa bị nhiễm mặn, lúa bị độc chủ yếu do sự tích lũy các ion Cl-Na+. Ở đây chỉ trồng lúa được trong mùa mưa khi các muối độc đã được rửa trôi (nồng độ muối dưới 2 %o) và phải thu hoạch khi dứt mưa.

Nhóm đất phèn: chiếm khoảng 1,6 triệu ha (41%), với khoảng 500.000 ha (13%) phèn hiện tại và 1,1 triệu ha đất phèn tiềm tàng (28%) có pH rất thấp, tập trung ở vùng trũng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và Tây Nam sông Hậu. Ở vùng nay, việc trồng lúa gặp trở ngại rất nghiêm trọng. Đất phèn chứa nhiều loại muối hòa tan mà thành phần chủ yếu là sulfat sắt và sulfat nhôm. Ba khu vực đất phèn chủ yếu ở ĐBSCL là vùng Đồng Tháp Mười, khu tứ giác Long Xuyên và vùng trũng Tây Sông Hậu.

Một cách tổng quát, trên phần lớn các loại đất phèn trồng lúa ở ĐBSCL thường 3 tầng chính: tầng A, tầng B, tầng C.

-            Tầng A: còn gọi là tầng canh tác, có màu nâu đen, nhiều chất hữu cơ và các ống rễ chưa phân hủy hết, đất tơi xốp.

-            Tầng B: gọi là tầng phèn, đất sét nặng, màu xám, rất dễ chặt, có nhiều đốm rỉ (Fe2 03) lẫn nhiều ống phèn vàng tươi (jarosite) dọc theo ống rễ hoặc đường nứt trong đất. Tầng nay tích tụ nhiều chất được rửa trôi từ tầng A xuống nên còn gọi là tầng tích tụ.

-            Tầng C: gọi là tầng mẫu chất hay tầng phèn tiềm tàng. Đất sét rất mềm nhão, yếm khí, màu xám xanh, có lẫn xác bả thực vật chưa phân hủy màu đen.

Giữa các tầng có sự chuyển tiếp từ từ về màu sắc và độ mịn của hạt đất, sự hiện diện của các đốm rỉ hoặc ống phèn và chất hữu cơ.

Căn cứ vào sự sắp xếp các tầng đất, chúng ta có thế biết được lịch sử tạo thành đất nơi đó. Tại các vùng đất ngập nước, đầu tiên xuất phát từ tầng đất giống như loại c (gọi là tầng mẫu chất) có chứa rất nhiều chất hữu cơ và chất khoáng sinh phèn (pyrite) chứa nhiều FeS2. Khi mẫu chất (pyrite) còn ngập nước thì nó không gây độc cho cây trồng nên gọi là đất phèn tiềm tàng. Nhưng khi đất bị khô lâu ngày, pyrite bị oxid hóa trở thành các hợp chất chứa nhiều FeS04 (jarosite), nhất là vùng dọc theo ống rễ cũ, có màu vàng tươi, pH giảm thấp khi ngập nước trở lại rất độc đối với cây trồng (hình thành tầng phèn B). Trên đất nay cây bị độc chủ yếu do pH thấp (đất quá chua) và sự hiện diện của ion H +, Fe2+, Al 3+ với nồng độ cao: đất phèn hiện tại hay phèn cố định.

Trong mùa khô, mực nước trong đất giảm xuống sâu tới đâu, lâu ngày các ống phèn sẽ được tạo thành tới đó, tầng B càng dày và mật độ ống phèn càng cao: đất càng phèn hơn. Đất phèn càng già, các hợp chất jarosite dần dần bị oxid hóa thành Fe2 03, các ống phèn chuyển sang màu nâu rỉ (đốm rỉ), pH tăng lên từ từ và tính độc hại giảm dần có thể trồng lúa được.

Các vùng đất trũng, trầm thủy hoặc thủy triều lên xuống hàng ngày, đất không có thời gian khô, thường chỉ có tầng A C, không có tầng B: đất phèn tiềm tàng.

            Nhóm đất phù sa: chiếm khoảng 1,1 triệu ha (28%) nằm ven sông Tiền và sông Hậu. Đất phù sa là đất được hình thành và phát triển trên trầm tích biển và sông ngòi.

Khu vực ven sông Tiền và sông Hậu, các kênh đào nước ngọt là vùng đất phù sa ngọt màu mở không bị ảnh hưởng của mặn, phèn. Tùy theo địa hình, khoảng cách từ sông rạch và mức độ phát triển của đất, người ta phân biệt đất phù sa ven sông chưa phân hóa, đất phù sa phát triển có tầng loang lỗ đỏ vàng và đất phù sa glây ở đầm lầy xa sông. Đây là vùng rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là sản xuất lúa, cây ăn trái và rau màu.

            Nhóm đất đồi núi và than bùn: chiếm khoảng 400.000 ha (10%). Đất đồi núi tập trung vùng Bảy Núi (An Giang) và Hà Tiên, rất thích hợp cho việc trồng hoa màu, nhưng độ màu mỡ thấp, thiếu nước và dễ bị xói mòn. Đất than bùn tập trung ở vùng rừng U Minh thuộc 2 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau. Ngộ độc hữu cơ là trở ngại chính trong việc canh tác ở vùng này.

             Đất xám bạc màu cũng được tìm thấy ở dọc theo biên giới Campuchia thuộc các tỉnh Long An, Đồng Tháp và một phần Kiên Giang.

             Ngoài ra, đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của lũ hằng năm, có khoảng hơn 500.000 ha đất bị ngập sâu trong mùa lũ (trên 50 cm).

             Tóm lại, ĐBSCL với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao và ít biến động trong năm, lượng bức xạ dồi dào là điều kiện thuận lợi cho việc trồng lúa. Tuy nhiên, do lượng mưa nhiều nhưng phân bố không đều, đất đai, địa hình phức tạp đã giới hạn năng suất lúa rất nhiều và hình thành những vùng trồng lúa khác nhau với chế độ nước, cơ cấu giống lúa, mùa vụ, tập quán canh tác rất đa dạng.

3.3   Những vùng trồng lúa và vụ lúa chính ở Việt Nam

3.3.1 Canh tác lúa cổ truyền

             Như đã đề cập ở trên, Đồng Bằng Sông Cửu Long với tính chất đất đai, địa hình phức tạp, chế độ nước khác nhau đã hình thành những vùng trồng lúa khác nhau.

Vùng lúa nối

             Theo số liệu thống kê 1984, ở ĐBSCL, diện tích lúa nổi chiếm khoảng 500.000 ha bao gồm các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, một phần Long An, Kiên Giang, Cần Thơ. Mực nước lũ trên ruộng cao nhất hàng năm lên đến 1,5-5 m vào tháng 10-11 dl. Sau đó, nước bắt đầu rút xuống dần từ những vùng gần các sông chính, đến tháng 1, 2 dl thì ruộng khô, đó cũng là thời điểm thu hoạch lúa. (Hình 4.8).

             Ở đây, nông dân thường chỉ làm 1 vụ lúa 1 năm bằng cách sạ khô với các giống lúa nổi như: Nàng Tây, Nàng Tri, Nàng Đùm. Lá Rừng, Nàng Chồi, Trường Hưng, Tàu Binh ... Các giống lúa này có đặc tính chịu hạn tốt vào đầu vụ và vươn lóng rất nhanh (elongating), vượt nước giỏi khi nước lũ về. Khi nước rút, thân lúa nằm dài trên mặt nước và lóng trên cùng vươn dậy để trổ bông (còn gọi là khả năng quỳ = kneeing). Năng suất lúa thường rất thấp, trung bình 1-2 tấn/ha.

             Sau khi thu hoạch vào tháng 1-2 dl, ruộng được để khô với lóp rạ rất dày. Khi rơm rạ khô, người ta đốt đồng, cày ải để phơi đất và diệt cỏ. Đến tháng 4 dl, khi bắt đầu có mưa người ta cày trở lại cho đất bể ra và tơi xốp, cuối tháng 4, đầu tháng 5 dl bắt đầu sạ. Hạt giống khô được trộn với DDT bột 75% (tỉ lệ 1 kg thuốc cho 100 kg hạt) hoặc BHC hạt 10% (10 kg thuốc cho 100 kg hạt) để ngừa dế, kiến, chim, chuột. Người ta sạ vải với mật độ trung bình 80-100 kg hạt/ha. Sau đó, thường bừa lại 1 lần để lấp hạt tránh chim ăn và giúp hạt lúa giữ ẩm tốt, sớm nẩy mầm sau những trận mưa đầu mùa. Năm nào mưa trể hoặc sau khi lúa mới mọc mà nắng hạn kéo dài, thường giống bị chết và phải gieo lại 2-3 lần. Khi nước lũ bắt đầu lên đồng vào khoảng tháng 7 dl, cây lúa đã lớn (khoảng 2 tháng tuổi) phát triển mạnh, đủ sức chịu đựng và vươn theo mực nước, trung bình 3-8 cm/ngày (nên gọi là lúa nổi). Những năm lũ lớn, về sớm, nước lũ lên quá nhanh, cây lúa không vươn kịp theo nước sẽ bị chết hàng loạt.

             Vấn đề chăm sóc, bón phân ... cho lúa nổi thường gặp khó khăn và ít được quan tâm vì diện tích lớn và nước quá sâu. Khi nước rút, lúa bắt đầu làm đòng và trổ , đến khi ruộng khô thì cũng vừa lúc để thu hoạch lúa. Thời gian thu hoạch bắt đầu từ khoảng cuối tháng 12 dl ở những vùng gần sông và trể dần đến tháng 1 -2 dl ở những vùng sâu trũng xa sông.

             Ở một số nơi, sau khi thu hoạch lúa người ta tranh thủ sạ một vụ màu ngắn ngày, thường là mè, đậu xanh để tận dụng ẩm độ đất, tăng thu nhập gia đình vì lớp rạ dầy giữ ẩm được khá lâu.

Vùng lúa cấy 2 lần

             Trước năm 1975, diện tích lúa cấy 2 lần chiếm khoảng 250.000 ha, rãi rác ở vùng trũng, nước rút chậm ở hạ lưu sông Cửu Long, bao gồm Vĩnh Long, Sa Đéc (Đồng Tháp), Cần Thơ, Vị Thanh, Long Mỹ, Phụng Hiệp (Hậu Giang), Ô Môn (Cần Thơ). Đặc điểm vùng nay là mực nước lên nhanh vào tháng 8-9 dl và rút chậm (đến cuối tháng 1-2 dl). Mực nước trung bình cao nhất từ 0,4-0,8 m; có nơi đến lm. Cần phải có cây mạ to khỏe, cao để chịu đựng được điều kiện nước ngập sâu khi cấy (khoảng 30-50 cm). Cây mạ thông thường không đáp ứng được yêu cầu này, nên cần phải qua thêm 1 giai đoạn gọi là cấy giâm (cấy 1 lần) rồi mới cấy liền (cấy lần 2). Cây mạ từ nương mạ thứ 2 nay gọi là “lúa cây”, cho nên phương pháp cấy lúa 2 lần còn gọi là “cấy lúa cây”, trong khi phương pháp cấy lúa 1 lần thì gọi là “cấy mạ”. Giống lúa phổ biến ở đây là các giống lúa mùa muộn, thu hoạch tháng 1-2 dl như Trời Cho, Châu Hạng vỏ, Huyết Rồng, Đuôi Trâu, Nàng Chô, Trắng Tép, Trắng Lựa, Trắng Lùn, Tàu Hương, Móng Chim...

(1)    Làm mạ

             Mạ được gieo sớm vào tháng 5 dl theo phương pháp tỉa lồ trên các bờ liếp hoặc ở những miếng ruộng gần nguồn nước tưới. Đất được cuốc xới và băm nhỏ, xong tưới nước cho mềm. Dùng cái chày nện thành những lỗ tròn đường kính 8 cm, sâu 1-2 cm. Đoạn rải hạt giống đã ngâm ủ cho nẩy mầm gọn vào đáy lồ, lấp hạt bằng tro trấu, xong phủ lên một lớp cỏ khô và tưới ấm hàng ngày. Khi cây mạ đã mọc cao khoảng 5 cm, người ta cào lớp vỏ khô nay đi, 15 ngày sau khi gieo, người ta tưới phân urea cho mạ mọc tốt và cao. Khoảng 25-30 ngày sau khi gieo, mạ sẽ được nhổ lên, bó lại từng bó và chuyển đến ruộng cấy lần 1 (cấy giâm), cần khoảng 100 m2 mạ để cấy 1000 m2 đất giâm.

(2)    Cấy lần 1 (cấy giâm):

             Lúc nay (khoảng tháng 6 dl), nhờ lượng mưa đọng lại trên ruộng ở những chổ trũng, người ta bừa trục, đánh bùn nhuyển và cấy với khoảng cách khác nhau, mật độ trung bình là 30x30 cm, mỗi bụi 8-10 tép mạ. Thời gian cây lúa ở ruộng giâm nay khoảng 2-2,5 tháng. Người ta chăm bón tích cực để cây lúa nở bụi to, cấy được nhiều diện tích sau nay. Thời gian đầu, ruộng lúa giâm chỉ phát triển nhờ lượng nước mưa giữ lại. Về sau, mực nước sông dâng cao bổ sung cho ruộng lúa. Trung bình 1 công (1000 m2) đất lúa giâm cấy đủ cho 0,5-0,8 ha (5-8 công) đất cấy liền tùy lúa nở bụi to hay nhỏ.

(3)    Cấy lần 2 (cấy liền hay cấy lúa cây):

             Đất thường được cày ải vào đầu mùa khô, đến tháng 7 dl cày trở và trước khi cấy, bừa trục, đánh bùn nhuyễn, “chế” sạch cỏ rồi mới cấy, lúc nay ruộng đã có nước khá nhiều. Nếu không cày ải được, ruộng có cỏ nhiều, người ta dùng “phảng” để phát sạch cỏ, xong cào ra khỏi ruộng. Trước khi cấy, người ta dùng phảng làm cỏ lại lần nữa (“chế”), rồi có thể bừa hay trục lại hay không tùy đất cứng hay mềm. Lúc bấy giờ, mực nước trên ruộng đã cao. Khoảng cuối tháng 8 đầu tháng 9 dl, cây lúa giâm được bứng lên từng bụi bằng dao chuyên dùng (dao bứng lúa) có cán cong làm điểm tựa cho bàn tay, ấn thẳng đứng, mũi nhọn của dao xuyên vào đất, lưỡi rất bén để cắt đứt rễ, nhổ bụi lúa lên và chặt hết rễ. Sau đó, các cây lúa giâm này được chuyến đến ruộng cấy lần 2 (cấy liền). Việc chuyển lúa giâm đến ruộng cấy liền cũng được thực hiện với nhiều kiểu khác nhau, tuỳ theo mực nước ruộng cao hay thấp và chuyển đi xa hay gần. Nếu ruộng cạn, người ta bó mạ lúa giâm nay lại thành từng bó rồi dùng “đòn sóc” có 2 đầu nhọn để đâm xuyên qua bó mạ và gánh đi. Nếu ruộng có nước, người ta chất mạ lúa giâm đầy lên xuồng với ngọn mạ quay xuống, phần gốc hướng lên trên, rồi kéo xuồng đến nơi cấy liền. Ở đây, bằng cách úp xuồng trở lại, lúa sẽ được chất thành từng đám trên mặt nước, ngọn hướng lên và gốc ngâm trong nước. Nếu ruộng nước sâu, người ta chất thành từng đám lớn, rồi kéo trên mặt nước đến nơi cấy, dùng cọc tre hoặc cây sậy cặm để giữ cố định vị trí của đám mạ không bị gió thổi trôi đi nơi khác. Nông dân thường ủ như thế 2-3 ngày để cho cây lúa ra rễ mới rồi mới cấy. Cây lúa lúc nay có chồi to khỏe và cao khoảng 70-80 cm rất thích hợp để cấy trong điều kiện mực nước cao và tiếp tục lên xuống theo thủy triều.

             Vì phải chuẩn bị đất trong khi mực nước cao nên đất cứng, lại phải cấy cây mạ to, nên khi cấy người ta dùng cây “nọc” bằng gồ để xoi lỗ, cùng lúc đó, bụi lúa được xé ra làm nhiều cụm từ 3-4 chồi và nhét ngay vào lỗ vừa xoi. Khoảng cách cấy trung bình 30- 35 cm mỗi bụi.

             Vấn đề cỏ dại trong ruộng lúa thường không đáng kể, tuy nhiên côn trùng và bệnh thường gây thiệt hại nặng do thời gian sinh trưởng của cây lúa quá dài. Đặc biệt là bệnh tiêm đọt sần (do tuyến trùng thân Ditylenchus angustus gây ra) thường xảy ra và gây thiệt hại nặng cho những vùng lúa bị ngập sâu và nước rút chậm nay.

             Đến tháng giêng, tháng 2 dl năm sau lúa sẽ chín, vì phần lớn các giống lúa cấy 2 lần đều là những giống lúa mùa muộn, quang cảm mạnh. Năng suất lúa cấy 2 lần trung bình 3-4 tấn/ha. Những năm 1980, một số diện tích ở gần sông rạch đã tăng vụ Hè Thu với giống cao sản ngắn ngày, sau khi đã chừa đủ diện tích để cấy giâm. Lúa Hè Thu sẽ sạ cấy vào tháng 4-5 dl và thu hoạch trong tháng 8-9 dl, rồi lấp vụ ngay với lúa mùa bằng kiểu cấy 2 lần này.

             Đến đầu thập niên 90, những nơi có hệ thống thủy nông khá tốt, người ta có khuynh hướng bỏ vụ lúa mùa thay bằng vụ lúa Đông Xuân với các giống cao sản ngắn ngày, cơ cấu Hè Thu - Đông Xuân ở vùng này cho thấy có nhiều triển vọng. Hiện nay, diện tích lúa cấy 2 lần ở ĐBSCL hầu như không còn đáng kể nữa, tập trung chủ yếu ở vùng ven rừng U Minh.

Vùng lúa cấy 1 lần

             Vùng lúa cấy 1 lần chạy dài dọc theo bờ biển từ Long An, Gò Công, Ben Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, chiếm diện tích khoảng 1,5 triệu ha, canh tác chủ yếu dựa vào lượng nước trời mưa.

             Hàng năm ở vùng này, thời vụ tương đối trể hơn 1 tháng so với các vùng khác để cho nước mưa rửa bớt muối mặn và phèn. Do điều kiện đất đai không đồng đều nên đã hình thành 2 kiểu mùa vụ khác nhau. Mỗi kiểu như thế sử dụng những giống lúa sớm muộn cũng khác nhau.

(1)    Vùng lúa 1 vu:

             Nói chung nông dân phải chờ đến khi mưa nhiều đế rửa phèn, rửa mặn mới chuấn bị gieo sạ được (tháng 6, tháng 7 dl). Cuối mùa mưa, đất đai lại bị nhiễm phèn, nhiễm mặn nên người ta dùng chủ yếu là các giống lúa mùa lỡ để khi dứt mưa thì lúa cũng đã trổ và sắp chín. Đây là vùng đất cao, rất ít bị ảnh hưởng thủy triều, canh tác chủ yếu dựa vào nước mưa, mực nước cao nhất không sâu quá 0,5 m.

             Các giống lúa phổ biến như: Ba Thiệt (Sóc Trăng). Trái Mây (Minh Hải), Tầm Vuột Lựa (Bạc Liêu), Chùm Ruột Lựa (Cà Mau), Cà Đung (Gò Công), Một Bụi (Bạc Liêu, Sóc Trăng), Nấp Bà Bóng (Long An), Đốc Phụng Lùn (Gò Công, Mỹ Tho), Nàng Keo (Bến Tre, Trà Vinh), Nàng Thơm (Long An)...

             Người ta thường làm mạ ướt tại những chổ trũng trong ruộng hoặc gần nguồn nước vào tháng 6 dl.

             Thông thường khi mạ được 1,5-2 tháng thì bắt đầu nhổ cấy. Khoảng cách cấy tuỳ giống lúa và loại đất, trung bình khoảng 30x30 cm. Thời gian cấy tập trung thường là trong tháng 8-9 dl. vấn đề cỏ dại, sâu bệnh thường gây thiệt hại lớn cho diện lúa này nhưng nông dân ít lưu ý. Thời gian thu hoạch từ tháng 12 đến đầu tháng 1 dl năm sau. Năng suất lúa thường thấp và không ổn định, trung bình 2-2,5 tấn/ha.

             Hiện nay, các giống lúa địa phương đã dần dần được thay thế bởi các giống lúa trung mùa cải thiện, cho năng suất cao, không quang cảm, kháng được một số loại côn trùng và bệnh chính, đã mở ra một triển vọng lớn cho vùng này. Các giống lúa phổ biến như NN4B (IR42), NN5B (IR48), MTL 83 ... cho năng suất bình quân 4-5 tấn/ha trên diện rộng.

(2)    Vùng hai vụ lúa địa phương:

             Vùng nay nằm gần khu vực lúa cấy 2 lần, lượng nước mưa đủ cung cấp cho cả hai vụ lúa một năm với giống lúa mùa sớm không hoặc ít quang cảm, sau đó làm một vụ nữa với giống lúa mùa muộn. Việc trồng lúa 2 vụ nay đã được thực hiện ngay trước khi du nhập giống lúa cao sản ngắn ngày đầu tiên (IR8) vào năm 1967.

             Các giống lúa mùa sớm phổ biến như Tiêu Trắng, Tiêu Đỏ (Ben Tre), Sa Bao, Sa Mo (Long An), Sóc So (Cần Thơ)... ở vùng nay người ta bắt đầu làm mạ vụ đầu với các giống sớm vào khoảng giữa tháng 4 đến tháng 5 dl. Nông dân thường cấy ở tuổi mạ 30 ngày với khoảng cách 25x25 cm, chừa lại vừa đủ diện tích đất đế làm mạ cho vụ sau.

             Ngay khi thu hoạch xong vụ trước vào tháng 9 dl, người ta cấy tiếp vụ lúa thứ hai khi tuổi mạ được 2 tháng. Vụ hai thường được thu hoạch trong khoảng tháng 12 đến tháng 1-2 dl. Năng suất vụ 1 thường không quá 2 tấn/ha, và năng suất lúa vụ 2 từ 3-3,5 tấn/ha. Như vậy, việc tăng vụ đã được nông dân ĐBSCL áp dụng ngay từ đầu thập niên 60, trước khi có lúa thần nông (lúa cao sản ngắn ngày).

             Đến thập niên 80, trên phần lớn diện tích lúa vụ 1 các giống lúa địa phương đã được thay bằng những giống lúa cao sản ngắn ngày kháng rầy nâu như NN3A, NN7A, IR21717, IR13240... đã đưa năng suất bình quân lên đến 4 tấn/ha/vụ, có khả năng mở rộng thâm canh tốt.

Hình 4.8. Cơ cấu thòi vụ các vùng trồng lúa cổ truyền của ĐBSCL trong những năm 1970s

             Ngoài ra, do bị lệ thuộc nước trời, thời vụ rất khắc khe ở một số nơi như Thạnh Trị (Sóc Trăng) kỹ thuật “sạ gởi” đã được nông dân áp dụng khá phổ biến. Trong kỹ thuật nay, hạt giống lúa ngắn ngày được trộn chung với hạt giống lúa mùa dài ngày với một tỉ lệ nhất định, để sạ một lần vào đầu mùa mưa. Khoảng 3-3,5 tháng sau đó người ta thu hoạch lúa ngắn ngày, lúa mùa sẽ tiếp tục phát triển và được chăm sóc như vụ lúa mùa bình thường để thu hoạch vào cuối tháng 12 hoặc tháng giêng dl. Kỹ thuật nay áp dụng trong khoảng thập niên 1980-1990.

3.4   Hệ thống canh tác ở Việt Nam

             Các giống lúa mới, cao sản ngắn ngày, không quang cảm, có thể trồng được bất cứ vụ nào trong năm và trồng được nhiều vụ một năm nếu bảo đảm được vấn đề tưới tiêu tốt. Từ khi các giống lúa mới được phổ biến rộng rãi, thuỷ lợi được cải thiện (Hình 4.9) và vấn đề áp dụng khoa học kỹ thuật mới trên đồng ruộng được đẩy mạnh, ở ĐBSCL đã hình thành nhiều vùng lúa cao sản 2-3 vụ lúa/năm cho thu hoạch bình quân 8-12 tấn lúa/ha/năm, một số trường hợp có thể lên đến 15-16 tấn/ha/năm.

             Vùng lúa cao sản đã phát triển rất nhanh trong những năm gần đây. Lúa cấy 2 lần đã hầu như chỉ còn lẻ tẻ ở vùng ven rừng U Minh, trong cơ cấu lắp vụ (cấy sau khi thu hoạch lúa Hè Thu), thay bằng cơ cấu 2 vụ lúa cao sản ngắn ngày Hè Thu và Đông Xuân. Diện tích lúa nổi đã giảm rất nhanh từ khoảng 400.000 ha năm 1984 xuống chỉ còn khoảng 30.000 ha ở An Giang năm 1992, bình quân mỗi năm giảm hơn 40.000 ha do sự phát triển nhanh của hệ thống thủy lợi và thủy nông nội đồng ở Đồng Tháp Mười và vùng Tứ Giác Long Xuyên. Hiện nay, diện tích lúa nổi chỉ còn khoảng vài trăm ha ở Tịnh Biên và Tri Tôn.

Hình 4.9. Hệ thống thuỷ lọi ở đồng bằng sông Cửu Long

             Từ những năm 2000 trở đi, dưới áp lực của thị trường và sâu bệnh (đặc biệt là dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản xuất trên đất lúa đã được nông dân đồng bằng sông Cửu Long tích cực đẩy mạnh. Hơn 10% diện tích gieo trồng lúa hằng năm đã được chuyển sang trồng màu hoặc nuôi trồng thuỷ sản có giá trị cao hơn. Hệ thống canh tác, cơ cấu mùa vụ và giống lúa rất đa dạng tùy điều kiện sinh thái ở từng nơi trên nền đất lúa (Hình 4.10).

Vùng phù sa nước ngọt

             Cơ cấu 3 vụ lúa chủ yếu tập trung ở những vùng đồng ruộng đã được kiến thiết tốt, có nguồn nước ngọt bố sung và đủ phương tiện cung cấp nước như Mỹ Tho, Châu Thành, Cai Lậy, Cái Bè (Tiền Giang), một phần Long An dọc theo quốc lộ 1. Người ta làm 3 vụ lúa 1 năm: Hè Thu - Thu Đông - Đông Xuân bằng phương pháp sạ thẳng với các giống lúa ngắn ngày chất lượng cao như: OM1490, OM3536, Jasmine85, VND20, VD95-20, MTL250, MTL384, MTL466,...

-          Vụ Hè Thu từ tháng 4 đến tháng 8 dl.

-          Vụ Thu Đông từ tháng 8-9 đến tháng 11-12 dl.

-          Vụ Đông Xuân từ tháng 11-12 đến tháng 3-4 dl.

Hình 4.10. Cơ cấu thòi vụ các vùng trồng lúa của ĐBSCL hiện nay

             Nông dân ở vùng này đã có tập quán trồng lúa cải thiện rất lâu đời so với các vùng khác nên trình độ thâm canh cao. Năng suất bình quân có thể trên 12-15 tấn/ha/năm. Gần đây, phương pháp “sạ chay” đã được phát triển mạnh mẻ trong vụ Hè Thu ở vùng nay để tranh thủ thời vụ, tránh căng thẳng về lao động và sức kéo, tiết kiệm nước đồng thời để hạn chế lúa bị ảnh hưởng độc do phèn trong mùa khô. Sau khi thu hoạch luá Đông Xuân, đất được giữ khô trong khoảng 1 tuần lễ, người ta rãi rơm đều khắp ruộng đế phơi rồi đốt, trước khi sạ hạt giống khô hoặc đã ngâm 24 giờ. Ngay sau khi sạ nước được đưa vào ngập ruộng, giữ nước lại trong ruộng 24 giờ cho đất ẩm rồi rút ra. Sau đó đất được giữ ẩm liên tục để hạt lúa nẩy mầm. Mọi công đoạn chăm sóc từ đó về sau giống như trường hợp sạ ướt.

             Cơ cấu 2 lúa + 1 màu tỏ ra thích hợp và khá phổ biến trong những năm 2000- 2006. Cơ cấu này phổ biến là Lúa Hè Thu - lúa Đông Xuân - màu Xuân Hè. Các loại cây màu được trồng rất đa dạng tuỳ tính thích nghi đất đai và nhu cầu thị trường ở từng địa phương, phổ biến là bắp lai, dưa hấu, bí đỏ, khoai lang, và các loại rau màu ngắn ngày, hẹ, kiệu,...

             Ở vùng đầu nguồn sông Cửu Long dọc theo hai bờ sông Tiền và sông Hậu, người dân thường trồng hai vụ lúa Hè Thu và Đông Xuân. Do nước lũ về rất sớm cho nên vụ Hè Thu vùng nay thường được bắt đầu vào khoảng tháng 3, 4 dl với các giống lúa ngắn ngày (90 - 100 ngày) bằng phương pháp sạ thẳng và thu hoạch vào tháng 7, tháng 8 dl trước khi lũ ngập ruộng, trể nhất là đến giữa tháng 9 dl. Trong thời gian giữa mùa lũ, đất ruộng được bỏ trống, đến khoảng tháng 11 dl, nước rút tới đâu người ta tiến hành sạ lúa Đông Xuân tới đó. Giống lúa dùng trong vụ nay cũng là những giống lúa rất ngắn ngày để đỡ chi phí bơm nước và bảo đảm năng suất lúa. Thời điểm xuống giống trể nhất là cuối tháng 12 dl. Vụ Đông Xuân thu hoạch rộ vào cuối tháng 2, đầu tháng 3 dl. Sau khi thu hoạch xong vụ Đông Xuân lại phải chuẩn bị để xuống giống Hè Thu ngay. Gần đây, nhiều diện tích ở vùng nay, nơi mực nước lũ hằng năm khá cao rất thích hợp để nuôi trồng các loại thuỷ sản, như tôm càng xanh, cá đồng trên ruộng bằng phương pháp đăng quầng, hoặc trồng các loại cây thuỷ sinh như rau nhút. Nhiều nơi bỏ hẳn vụ lúa Hè Thu để nuôi tôm sau vụ lúa Đông Xuân đem lại lợi nhuận cao gấp nhiều lần so với lúa. Nhiều vùng với hệ thống đê bao khép kín như khu vực Bắc Vàm Nao, thuộc huyện Chợ Mới và Phú Tân (An Giang), người dân có thể trồng 3 vụ lúa hoặc 2 lúa + màu chủ động tưới tiêu, trong khu đê bao với tần suất 3 năm xả lũ một lần.

Vùng nước trời nhiễm mặn

             Vùng này vẫn còn chiếm diện tích khá lớn ở các tỉnh ven biển trải dài từ Long An, Tiền Giang, Ben tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang. Tại vùng này, cơ cấu phổ biến trên đất lúa vẫn là lúa 2 vụ (Hè Thu bằng giống lúa cao sản ngắn ngày sạ khô và cấy lắp vụ bằng các giống lúa địa phương, hoặc bằng các giống lúa cao sản ngắn ngày hoặc trung mùa). Vùng khó khăn hơn vẫn tiếp tục duy trì cơ cấu 1 vụ lúa mùa hoặc lúa trung mùa cao sản như IR42, MTL83, ST5. Đặc biệt vùng ven biển cơ cấu lúa + tôm sú hoặc tôm chuyên canh đang phát triển mạnh mẽ do lợi nhuận hấp dẫn của việc nuôi tôm. Cơ cấu lúa + tôm tỏ ra bền vững và ít rủi ro hơn nuôi tôm chuyên canh.

             Cơ cấu 2 màu + 1 lúa thích hợp ở cả vùng ngọt chủ động nước, lẫn vùng ven biển nước lợ nhưng có nguồn nước ngọt bổ sung vào mùa khô, bằng hệ thống kênh đào dẫn nước ngọt từ vùng thượng nguồn hoặc khai thác nước mặt bằng các giếng cạn (l,5-2m, vùng đất giồng cát) hoặc nước ngầm bằng giếng khoan.

Hình 4.11. Các vùng sinh thái nông nghiệp chính ở đồng bằng sông Cửu Long

             Do đó, có thể nói cơ cấu mùa vụ, kỹ thuật canh tác lúa ở ĐBSCL đã biến chuyển rất nhanh chóng cùng với sự phát triển của hệ thống thủy lợi, sự các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong ngành trồng lúa, đặc biệt là giống luá mới ngắn ngày năng suất cao kháng sâu bệnh. Đồng thời các chính sách nông nghiệp và xuất nhập khẩu hợp lý đã kích thích người nông dân mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất và sử dụng đất đai tốt hơn. Mạng lưới khuyến nông đã được chú trọng và đẩy mạnh trong những năm gần đây góp phần hỗ trợ đắc lực nông dân khai thác đất đai của họ có hiệu quả và đa dạng hơn, kết hợp canh tác lúa với các cây trồng khác hoặc kết hợp trồng lúa với việc nuôi tôm, cá, hay chăn nuôi... Hiện nay, các mô hình canh tác trên đất lúa ở ĐBSCL hết sức phong phú, đa dạng, đem lại lợi tức cao hơn và điều hòa hơn trong năm cho người nông dân. Đa dạng hoá sản xuất, tăng năng suất và chất lượng nông sản hàng hoá, đặc biệt là lúa gạo là xu hướng tất yếu của sản xuất nông nghiệp, nói chung và sản xuất lúa nói riêng ở ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay.

 

CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

No comments:

Post a Comment