Chương 1 VỊ TRÍ KINH TẾ CÂY LÚA
1.1 Tầm quan trọng của lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.2 Sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.3 Thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế của lúa gạo
1.4
Nguồn gốc, phân loại, vùng phân bố, lịch sử phát triển
DOWNLOAD PDF
1.1 Tầm quan trọng của lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong ba cây lương thực quan trọng nhất trên thế giới. Sản lượng lúa gạo toàn cầu năm 2017 đứng sau ngô (1134,75 triệu tấn) và ngang với lúa mì (771,72 triệu tấn) theo thống kê của FAO năm 2019. Ở Việt Nam, lúa là cây lương thực quan trọng nhất hơn cả bắp, sắn, khoai lang. Trong năm 2016, diện tích trồng lúa ở Việt Nam gần 7,7 triệu ha, sản lượng 43,11 triệu tấn, và năng suất 5,57 tấn/ha.
Diện tích trồng lúa chiếm khoảng 1/10 diện tích các cây trồng khác trên thế giới. Khoảng 87% diện tích trồng lúa là ở Châu Á, khoảng 12% còn lại được phân bố ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi (FAO 2019). (Bảng 1.1)
Gạo từ lúa là nguồn lương thực chính của hàng tỷ người và nhu cầu ngày càng cao. Lúa gạo là nguồn năng lượng và dinh dưỡng chính của con người. Thế giới có khoảng 2 tỉ người ở châu Á dùng gạo và các chế phẩm từ gạo để bổ sung 60% tới 70% nguồn năng lượng căn bản cho hoạt động sống hàng ngày. Cơm là món ăn bổ dưỡng trong hầu hết mọi gia đình Việt Nam và nhiều nước châu Á, châu Phi. Sản xuất lúa gạo là sinh kế chính của nhiều người dân các nước châu Á và thế giới. Ở Việt Nam, lúa gạo hầu như được sử dụng làm lương thực chính cho dân số 97,37 triệu người năm 2019. Gia đình nông thôn Việt Nam có 60-80% sinh kế và chi tiêu là từ lúa gạo. Chất lượng lương thực, thức ăn thức uống mỗi ngày là mấu chốt của vấn đề an sinh xã hội.
An ninh lương thực, khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu toàn cầu và ô nhiễm môi trường là những vấn đề lớn của nhân loại. Theo FAO 2010, thế giới có gần 925 triệu người bị đói, trong đó có 98% nạn đói tập trung ở các nước đang phát triển, 65% người đói tập trung ở 7 nước Ấn Độ, Trung Quốc, Congo, Bangladesh, Indonesia, Pakistan and Ethiopia. Đến năm 2017, theo FAO thế giới còn khoảng 820,80 triệu người bị đói hoặc thiếu dinh dưỡng, hai phần ba của tổng số đó thuộc về châu Á. Nguyên nhân gây ra cái chết của 45% trẻ em dưới 5 tuổi là do suy dinh dưỡng. Cũng theo FAO, có đến 37 quốc gia trên thế giới đang rất cần viện trợ lương thực. Trong số này, 28 quốc gia thuộc tiểu vùng Sahara châu Phi. (Hình 1.3)
Hình 1. 2 Tổng số người thiếu dinh dưỡng toàn cầu (FAO 2018)
Hình 1. 3 Số người thiếu đói năm 2015 ở một số khu vực trên thế giới (FAO 2015).
1.2 Sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên Thế giới
Cây lúa có vùng phân bố rộng lớn từ 30 vĩ độ Nam đến 40 vĩ độ Bắc. Thế giới hiện có 113 nước sản xuất và tiêu thụ lúa gạo.
Sản lượng lúa thế giới theo FAO 2019 , đã tăng từ 316,3 triệu tấn năm 1970 đến 769,7 triệu tấn năm 2017, trong đó châu Á có sản lượng lúa tăng từ 290,1 triệu tấn năm 1970 đến 692,6 triệu tấn năm 2017, chiếm 90% sản lượng lúa gạo toàn cầu. Diện tích lúa Thế giới đã tăng từ 132,87 triệu ha năm 1970 lên 167,24 triệu ha năm 2017, trong đó châu Á có diện tích lúa tăng từ 120,91 triệu ha năm 1970 đến 145,53 triệu ha năm 2017, chiếm 87% diện tích lúa toàn thế giới. Năng suất lúa Thế giới đã tăng từ 2,38 (tấn/ha) năm 1970 đến 4,60 (tấn/ha) năm 2017 (Bảng 1.1).
Bảng 1 1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Thế giới và Việt Nam (1970 – 2017)
Trung Quốc với năng suất tăng nhanh từ 2,08 tấn/ha năm 1961 lên mức 6,81 tấn/ha năm 2014. Việt Nam với năng suất tăng nhanh từ 1,87 tấn/ha năm 1961 lên mức 5,75 tấn/ha năm 2014. Tốc độ tăng năng suất lúa gạo của Trung Quốc và Việt Nam từ năm 1961 đến năm 2014, gấp tương ứng …. lần và ….lần so mức tăng bình quân chung của toàn thế giới. Riêng Nhật Bản, năng suất lúa năm 1990 đã bình quân 5,80 tấn/ha, đến năm 2014 năng suất lúa đạt 6,69 tấn/ha. (Hình 1.5).
Trung Quốc đạt thành tựu lúa ấn tượng thế giới là do từ năm 1970 đã nghiên cứu và ứng dụng thành công giống lúa lai F1, đặc biệt trong việc phát triển lúa lai hai dòng trên cơ sở phát triển mới về gen di truyền của lúa, các dòng bất dục có gen mẫn cảm với nhiệt độ và ánh sáng. Trong đó có 08 tổ hợp lai và 26 dòng được phát hiện, với 2 dòng PGMS (Photoperiod Genic Maile Sterile) là Japonica, TGMS (Thermo Genic Maile Sterile) là Indica được công nhận và đưa ra sản xuất (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 1995).
(Nguồn: FAO 2019)
Hình 1. 4 Năng suất lúa gạo trên Thế giới và Việt Nam từ
năm 1961 đến năm 2014 (FAOSTAT 2019)
14 nước có sản lượng lúa gạo hàng đầu thế giới năm 2017 từ 2 triệu tấn đến 214 triệu tấn, chiếm 89% tổng sản lượng lúa toàn cầu được đúc kết ở Bảng 1.2. Năm nước có sản lượng lúa lớn nhất theo thứ tự là Trung Quốc 214,43 (triệu tấn), Ấn Độ 168,50 (triệu tấn), Indonesia 81,38 (triệu tấn), Bangladesh 48,98 (triệu tấn) và Việt Nam 42,76 (triệu tấn). Mười nước có sản lượng lúa thấp hơn lần lượt là Thái Lan 33,38 (triệu tấn), Myanmar 25,62 (triệu tấn), Philippines 19,28 (triệu tấn), Brazil 12,47 (triệu tấn), Campuchia 10,35 (triệu tấn), Nhật Bản 9,78 (triệu tấn), Hoa Kỳ 8,08 (triệu tấn), Ai Cập 6,38 (triệu tấn), Peru 3,04 (triệu tấn).
6 nước có diện tích lúa gạo đứng đầu thế giới chiếm 71,88% tổng diện tích trồng lúa toàn cầu năm 2017 là Ấn Độ 43,79 (triệu ha), Trung Quốc 31,04 (triệu ha), Indonesia 15,79 (triệu ha), Bangladesh 11,27 (triệu ha) Thái Lan 10,61(triệu ha) và Việt Nam 7,71 (triệu ha).
Bảng 1.2 Sản xuất lúa gạo của một số nước năm 2011 và năm 2017
Đó là do: 1) ứng dụng giống lúa mới siêu xanh, lá xanh lâu bền, thân cứng không hoặc rất ít đổ ngã, tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao, bông dài to chùm, năng suất cao, chất lượng tốt, ít sâu bệnh hại, chống chịu hạn mặn và điều kiện thời tiết bất thuận, 2) trình độ thăm canh được tăng lên, 3) hệ thống thủy lợi tưới tiêu thêm hoàn thiện, 4) phân bón đúng mức và chế độ thâm canh hợp lý chuỗi giá trị sản phẩm lúa gạo ngày một tố hơn, 5) sự đa dạng hóa di truyền, đưa các gen đặc sản, chống chịu ngoại cảnh cao, đáp ứng nhu cầu thị trường vào nguồn giống tốt.
Dự báo toàn cảnh thị trường lúa gạo thế giới năm 2019/2020, trong báo cáo công bố tháng 5/ 2019, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo sản lượng gạo toàn cầu niên vụ 2019/20 sẽ giảm nhẹ do Trung Quốc và Ấn Độ. Trái lại, tiêu thụ sẽ tiếp tục tăng, nhất là tại Châu Phi cận Sahara, nơi mà người tiêu dùng bị hấp dẫn bởi giá gạo Châu Á rẻ, và cũng do dân số tăng. Thương mại gạo thế giới năm 2018/2019 và năm 2019/2020 cao kỷ lục 500,0 triệu tấn, và Ấn Độ tiếp tục giữ vị trí nước xuất khẩu nhiều gạo nhất. Tồn trữ gạo toàn cầu sẽ vẫn tăng, trong đó Trung Quốc chiếm 68% tổng tồn trữ toàn cầu. Tuy nhiên, mức tăng tồn trữ của cả thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng đều chậm nhất trong vòng một thập kỷ.
USDA nhận định tiêu thụ và thất thoát gạo toàn cầu năm 2014/2015 sẽ cao kỷ lục 483,3 triệu tấn, tăng 3,2 triệu tấn so với năm trước và không đổi so với dự báo hồi tháng trước. Như vậy, tiêu thụ gạo toàn cầu sẽ vượt sản lượng 7,8 triệu tấn trong năm 2014/2015, chủ yếu do tiêu thụ tại Bangladesh, Myanmar, Trung Quốc, Indonesia và Mỹ tăng mạnh.
Về nhập khẩu, USDA dự báo nhập khẩu gạo của Trung Quốc sẽ đạt 4,3 triệu tấn năm 2015, tăng 10% so với 3,9 triệu tấn năm 2014 và tăng nhẹ so với 4 triệu tấn dự báo hồi tháng trước dựa vào việc Trung Quốc ký thỏa thuận với Myanmar và Thái Lan. Dự báo Syria sẽ giảm nhập khẩu 9% xuống khoảng 200.000 tấn, nhưng con số này vẫn cao hơn 33% so với mức 150.000 tấn dự báo hồi tháng trước, bởi xuất khẩu từ Ấn Độ và Việt Nam sang thị trường này qua Thổ Nhĩ Kỳ gia tăng
Bảng 1.3 Các nước xuất khẩu gạo quan trọng trên thế giới (triệu tấn)
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong cơ cấu kinh tế của đất nước, nông nghiệp Việt Nam có vai trò làm giá đỡ nền tảng, đóng góp 22,1% GDP, gần 30% giá trị xuất khẩu và trên 60% lực lượng lao động.
Sản xuất lương thực là giá đỡ cho nền kinh tế với diện tích hàng năm khoảng 9 triệu hecta, trong đó lúa gạo chiếm 85-87% tổng diện tích các loại cây trồng. Lúa ở Việt Nam chiếm diện tích gieo trồng và sản lượng lớn nhất ngành sản xuất lương thực ( bảng ..). Sản xuất lúa gạo ở vị trí trung tâm của an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam.
Bảng … Diện tích (1000 ha) các loại cây trồng Việt Nam giai đoạn 1995 – 2015
Nguồn: Niên giám Thống kê 2017 Tổng cục Thống kê đúc kết và trích dẫn bởi Hoàng Kim, Hoàng Long, 2019
Suốt thời gian dài, ngành sản xuất lương thực Viêt Nam đã tăng trưởng cao và ổn định, góp phần quyết định trong những thành tựu của nước ta vượt qua khủng hoảng kinh tế. Tốc độ tăng năng suất lúa gạo Việt Nam (1975-2014) vượt 1,73 lần so với tốc độ tăng năng suất lúa gạo bình quân chung của toàn thế giới (hình ...).
Trên thế giới, lúa gạo là cây lương thực năm 2017 với sản lượng 769,66 triệu tấn, đứng thứ ba sau ngô (1134,75 triệu tấn), lúa mì (771,72 triệu tấn) (FAO 2019). Còn ở Việt Nam, lúa gạo đã trở thành cây lương thực quan trọng nhất, trước ngô, sắn, khoai lang. Năm 2017, diện tích lúa tại Việt Nam đạt 7,7 triệu ha, với sản lượng 42,76 triệu tấn, năng suất 5,54 tấn / ha. (Bảng ...)
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất, sản lượng bốn cây lương thực chính của Việt Nam
Thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam
Bảng: Một số mặt hàng xuất khẩu nông sản của Việt Nam (1000 tấn) 2000 - 2015
Vùng canh tác lúa chính ở Việt Nam
Ngành trồng lúa là một trong những ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, lúa được trồng ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Nghề trồng lúa ở nước ta được hình thành và chia ra làm 3 vùng canh tác chính: Đồng Bằng sông Hồng, Đồng Bằng ven biển miền Trung và Đồng Bằng Nam Bộ. Trong đó vùng Đồng Bằng sông Hồng và vùng Đồng Bằng sông Cửu Long được bồi đắp lượng phù sa hằng năm bởi hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long.
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2019, diện tích sản xuất lúa sơ bộ năm 2017 trên cả nước là 7,71 triệu ha, trong đó đứng đầu là Đồng bằng sông Cửu Long chiếm diện tích lớn nhất 4,19 triệu ha, tới đến Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung đứng thứ hai (1,25 triệu ha) và đồng bằng Sông Hồng chiếm diện tích lớn ba (1,07 triệu ha ) (bảng 1.3).
Bảng 1.3 Diện tích lúa (triệu ha) cả năm phân theo khu vực ở Việt Nam
Bảng 1.4 Năng suất lúa (tấn/ha) cả năm phân theo khu vực ở Việt Nam
Theo số liệu bảng 1.4, năng suất lúa cả nước Việt Nam từ năm 2012 đến năm 2017 giao động từ 5,64 - 5,55 tấn/ha. Trong đó, riêng năm 2017 năng suất lúa cả nước đạt đạt gần 5,55 tấn/ha, Đồng bằng sông Hồng có năng suất lúa cao nhất (5,68 tấn/ha), Đồng bằng sông Cửu Long (5,64 tấn/ha), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (5,58 tấn/ha).
Bảng 1.5 Sản lượng lúa (tấn/ha) cả năm phân theo khu vực ở Việt Nam
Về sản lượng lúa sơ bộ năm 2017 cả nước ta đạt 42,76 tấn/ha, Đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỷ lệ cao nhất cả nước đạt 23,63 tấn/ha, kế đến thứ hai là Bắc trung bộ và duyên hải miền trung có sản lượng lúa 6,99 tấn/ha. Đồng bằng Sông Hồng chiếm sản lượng lúa thứ 03 cả nước 6,08 tấn/ha (bảng 1.5).
Top 10 tỉnh có diện tích trồng lúa nhiều nhất Việt Nam
Top 10 tỉnh có sản lượng lúa nhiều nhất Việt Nam
Top 10 tỉnh có năng suất lúa nhiều nhất Việt Nam
Chiến lược phát triển Nông nghiệp Việt Nam, Bộ Nông nghiệp & PTNT đã chỉ rõ: “Phát triển sản xuất lúa gạo Việt Nam trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn có hiệu quả và đảm bảo an ninh lương thực”. Trên cơ sở tính toán nhu cầu tiêu thụ của đất nước và nhu cầu chung của thế giới trong tương lai, đảm bảo tuyệt đối an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, đảm bảo quyền lợi hợp lý của người sản xuất, người kinh doanh lúa gạo và xuất khẩu có lợi nhuận cao, đảm bảo sản lượng lúa gạo cả nước đạt 41 triệu tấn năm 2020 (MARD trích dẫn bởi Hoàng Kim, 2011).
1.2.3 Tình hình sản xuất lúa gạo ở một số tỉnh huyện quan trọng của Việt Nam
Điều kiện tự nhiên ở tỉnh huyện
Địa hình - Thổ Nhưỡng
Khí hậu
Tình hình sản xuất lúa gạo ở tỉnh huyện
1.3 Thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế của lúa gạo
1.3.1 Giá trị dinh dưỡng
Thành phần dinh dưỡng của lúa gạo (bảng 1.1). Phân tích thành phần dinh dưỡng của gạo gồm có tinh bột: 62,4 %, protein 7,9% (gạo nếp protein thường cao hơn gạo tẻ), lipit ở gạo xay là 2,2%, gạo xát chỉ còn 0,2%. Bột gạo có nhiều B1, B2 (riboAavin), B6, pp, lượng vitamin B1 là 0,45 mg/100 hạt (trong đó ở phôi 47%, vỏ cám 34,5%, hạt gạo 3,8%)
Tinh bột: Là nguồn chủ yếu cung cấp calo. Tinh bột chiếm 62,4% trọng lượng hạt gạo. Tinh bột trong hạt gạo gồm có amylopectin quyết định độ dẻo của hạt. Gạo tẻ có từ 10 - 45% hàm lượng amyloza. Gạo nếp có từ 1 - 9% hàm lượng amyloza.
Protein: Thường chiếm 7 - 9% hạt gạo. Gần đây có các giống lúa mới có hàm lượng protein lên tới 10 - 11%. Gạo nếp thường có hàm lượng protein cao hơn gạo tẻ.
Lipit: Phân bố chủ yếu ở lớp vỏ gạo. Nếu ở gạo lức (gạo còn nguyên vỏ cám) hàm lượng lipit là 2,02% thì ở gạo chà trắng (gạo đã bóc hết vỏ cám) chỉ còn 0,52%.
Vitamin: Trong lúa gạo còn có một số vitamin nhất là vitamin nhóm B như B1, B2, B6, PP, lượng vitamin B1 là 0,45 mg/100 hạt, phân bố ở phôi 4%, vỏ cám 34,5%, trong hạt gạo chỉ có 3,8%.
Bảng 1.1 So sánh thành phần hóa học có trong hạt gạo lức với gạo lúa mì, ngô (bắp) và cao lương
Bảng : Giá tri dinh dưỡng của lúa gạo (% chất khô) so với một số cây lấy hạt khác
1.3.2 Giá trị sử dụng
Lúa gạo không chỉ dùng để cung cấp lương thực thực phẩm, mà còn là nguyên liệu để sản xuất tân dược. Phụ phẩm của lúa như rơm rạ cám còn là thức ăn tốt cho chăn nuôi và phục vụ cho nền công nghiệp chế biến giấy chất lượng cao. Bên cạnh đó, rơm rạ còn được dùng để là giá thể nuôi trồng những loại nấm có giá trị dinh dưỡng cao. Sau khi thu hoạch, rơm rạ còn sót lại trên ruộng đồng có tác dụng cải tạo đất, làm tăng độ phì của đất và làm môi trường tốt cho vi sinh vật sống hoạt động.
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), ngoài giá trị sử dụng để làm lương thực, các giá trị sử dụng khác được kể đến như:
- Cám: Dùng để sàn xuất thức ăn cho cho chăn nuôi, sản xuất vitamin B1 chửa bệnh tê phù, ép dầu, chế tạo sơn cao cấp, làm mỹ phẩm, chế xà phòng.
- Trấu: Sản xuất nấm men, làm thức ăn cho gia súc, sản xuất tấm cách âm, silic, chất độn chuồng, chất đốt.
- Rơm, rạ: Dùng để sản xuất giấy, các tông xây dựng, đồ gia dụng, làm thức ăn gia súc, làm giá thể để sản xuất nấm rơm.
1.4 Nguồn gốc vùng phân bố và phân loại cây lúa
1.4.1 Nguồn gốc vùng phân bố
Cây lúa (Oryza sativa L.) là loại cây thân thảo sinh sống hằng năm, có nguồn gốc lịch sử lâu đời trải dài từ phía Nam Trung Quốc đến phía Bắc Ấn Độ (vào khoảng 8000 năm trước đây). Cây lúa phân bố từ 30o N đến 40o B. Diện tích trồng lúa chiếm khoảng 1/10 diện tích các giống cây trồng trên thế giới, khoảng 87% diện trích trồng lúa là ở Châu Á, khoảng 12% còn lại được phân bố ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi (FAOSTAT, 2019).
Diện tích trồng lúa của thế giới chủ yếu tập trung ở Đông Nam Á. Khí hậu Đông Nam Á nóng ẩm, mưa nhiều, ánh sáng mạnh thích hợp cho cây lúa sinh trưởng phát triển. Nhiều giống lúa hoang là tổ tiên của giống lúa trồng hiện nay đang có mặt trong các nước Đông Nam Á.
Tổ tiên cây lúa trồng ở Châu Á (Oryza sativa L.) đã xuất hiện từ thời kỳ đồ đá mới, cách đây 10000 - 15000 năm từ vùng chân núi phía Nam dãy Himalaya (Ấn Độ) và miền Nam Đông Nam Á (Trần Văn Đạt, 2002). Các tài liệu lịch sử, di tích khảo cổ học đều có nói về nghề trồng lúa đã xuất hiện rất sớm ở các nước Đông Nam Á (Việt Nam là chốn tổ của nghề trồng lúa). Nhưng một số nước nhận định khác như Trung Quốc nói từ năm 1742 đã có nói rằng nghề trồng lúa có ở Trung Quốc từ 2800 năm trước công nguyên. Ở Ấn Độ nghề trồng lúa có từ 2000 năm trước công nguyên và sau đó lan sang các nước Ai Cập, Châu Âu. Châu Phi, Châu Mỹ)
Theo Lê Minh Triết (2005), cây lúa có nguồn gốc là ở Đông Nam Á vì diện tích trồng lúa trên thế giới tập trung chủ yếu ở Đông Nam Á, khu vực này có khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, ánh sáng mạnh thích hợp cho cây lúa phát triển, có nhiều giống lúa dại là tổ tiên của giống lúa trồng ngày nay. Theo Võ Tòng Xuân (1984), từ các di chỉ Đồng Đậu và trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam có in hình người giã gạo, cùng với các vỏ trấu cháy thành than đã chứng tỏ ngành trồng lúa có cách đây từ 3330 - 4100 năm. Theo Đinh Văn Lữ (1978), những di tích như bàn nghiền hạt lúa, cối và chày đá giã gạo cũng cho rằng cây lúa có mặt khoảng 4000 – 3000 năm trước công nguyên.
1.4.2 Phân loại cây lúa
Loài Oryza sativa L. với 2 loài phụ là Indica và Japonica (loài phụ Javanica hiện nay đã được xếp vào Japonica nhiệt đới). Ngoài ra loài phụ Oryza glaberrima được phát hiện trồng chủ yếu ở Châu Phi và hiện đang bị thay thế dần bởi Oryza sativa L. Hai loại lúa phổ biến trong sản xuất hiện nay này có thể mọc trong nhiều điều kiện đất và nước rất khác biệt nhau, từ những đồng trũng ngập nước sau nhiều ngày đến các sườn đồi cao khô hạn thường xuyên.
Hình………………..
Theo Hoàng Văn Bằng (2014), loài lúa trồng quan trọng nhất, thích nghi rộng rãi và chiếm đại bộ phận diện tích lúa trên thế giới là Oryza sativa L. Loài này hầu như có mặt khắp nơi từ đầm lầy đến vùng núi, từ vùng xích đạo, nhiệt đới đến ôn đới, từ khắp vùng phù sa nước ngọt đến vùng đất cát sỏi ven biển nhiễm mặn, phèn.
Phân loại theo đặc tính thực vật
Lúa trồng hiện nay là do lúa dại qua quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo mà thành. Lúa thuộc họ hoà thảo (Gramineae), tộc Oryzeae, chi Oryza. Trong chi Oryza có nhiều loài. Tại hội nghị di truyền học tế bao về lúa (1963) họp tại Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI đã xác định đước 19 loài. Trong đó loài Oryza sativa. L và Oryza Glaberima là hai loài được trồng phổ biến nhất hiện nay. Tuy nhiên theo De Datta (1981) thì chi Oryza có khoảng 20 loài, có tổng số NST 2n=24, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi, Nam và Đông Nam Á, nam Trung Quốc, Nam và Trung Mỹ và một phần Châu Úc.
Hình ……..
Soure: Ricepedia. Hoàng Long trích dẫn, 2017
Phân loại theo sinh thái địa lý
Bảng 1.5. Lúa tiên Indica và lúa cánh Japonica có các đặc điểm khác biệt sau
Phân loại theo tính quang cảm
Lúa là cây ngày ngắn, phản ứng đối với quang kỳ (độ dài chiếu sáng trong ngày) phân thành giống quang cảm và giống không quang cảm. Hầu hết các giống mới lai tạo hiện nay là giống lúa không quang cảm. Phần lớn các giống lúa cổ truyền đều là giống lúa quang cảm chỉ ra hoa trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn thích hợp nên gọi là lúa mùa.
Phân loại theo điều kiện canh tác
Lúa có tưới, lúa nước trời, lúa nước sâu, lúa cạn, lúa nổi.
Phân loại theo đặc tính sinh hóa hạt gạo
Theo Chang (1980) có loại gạo nếp (hàm lượng amylose <3%), gạo rất dẽo (amylose 3,1-10%), gạo dẽo (amylose 10,1-15%), gạo hơi dẽo (amylose 15,1 - 20,0%), gạo nở (amylose 20,1- 25,0 %); gạo rất nở ((amylose 25,1 - 30,0%)
Phân loại theo đặc tính hình thái cây lúa
Cây lúa có giống lúa cao cây (1,20m), trung bình (1,00- l,20m) , thấp cây ( <1,00 m); giống lúa nhiều bông, to bông, khỏe bông, giấu bông, phân loại lúa theo chiều dài hạt gạo; màu sắc hạt gạo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
No comments:
Post a Comment